CÂU ĐỐI
- Mỹ Nghệ Sơn Đồng
- 15 thg 8, 2023
- 4 phút đọc
Câu đối còn gọi là Doanh thiếp: Doanh liên, Đối liên. Doanh là cột, thiếp là tờ giấy, liên là liên kết; đối là đi đôi, song song, một cặp đối xứng. Nhân dân ta rất thích câu đối, hai chữ Câu đối là chữ của bà con ta. Thời xưa, Câu đối (Đối liên), còn được gọi là liên, là liễn. Liễn là hai tấm giấy, hoặc vóc, lụa dài dùng để viết câu đối, có nẹp trục để cuộn. Vào ngày đầu năm mừng Tết, mừng xuân; hoặc khi đám cưới, sinh con... đều có câu đối. Vui vì cảnh đẹp, ca ngợi đất nước, dân tộc, dòng họ;
Tuyên dương sự, học tuyên dương đạo nghĩa.. đều có câu đối. Trong đình, đền, miếu, chùa, quán, lăng tẩm, nhà họ, di tích.. càng phải có cầu đối là chúc thọ, chúc nhà mới, cơm mới, cửa hàng mới cũng có câu đối. Cau đối là một trong những loại hình văn hóa rất phổ biến ở nước ta.
Câu đối Tết xưa:
Đào lý mãn viên tân phú quý,
Xuân huyên lưỡng thụ cựu xuân thu
(Con cháu đầy nhà thêm phú quý, Mẹ cha hai vị vẫn vui tươi)
Đó là kiểu câu đối Tết thời xưa, nay thì tư duy đã đối mới:
Hoa mộc Xuân vũ diệm; Phúc y Đảng ân sinh.
(Hoa tắm mưa Xuân nở; Phúc nhờ Đảng mà sinh).
Tết mà thiếu câu đối thì hình như chưa đủ Tết; nhưng cũng vì vậy, có khi nhân dịp Tết người ta dán câu đối để bộc bạch tình cảm của riêng mình, tình cảm đó chủ yếu là tình cảm đối với Tết, nhưng cũng có khi lấy Tết để nói việc khác. Việc nhỏ là vui buồn cá nhân, việc lớn là vui buồn có tầm xã hội, quốc gia... Chính vậy mà nội dung câu đối Tết rất phong phú, điều đó khó dùng lời mà nói hết được. Câu đối nước ta cũng dành nội dung không nhỏ cho việc ngợi ca cảnh sắc đất nước, danh lam thắng tích nơi nơi: Trường Sơn núi cao, Trường Sa đảo nhỏ; từ đây tới đó, đất đại ta muôn thuở vẹn toàn. Cà Màu bãi rộng, Lạng Sơn rừng dầy; ngoài Bắc trong Nam, non nước cũ ngàn năm. Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà, non thống nhất. nước vẫn quay về đất tổ. Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mộ ông. Ngoài nội dung trên, người xưa làm câu đối còn có một yêu cầu không thể thiếu được; đó là việc biểu dương công đức người trước, ca ngợi thành tích người đương thời, khuyến khích điều thiện. Nói chung, đây là loại câu đối có nội dung về phương diện học tập, tu dưỡng. Câu đối này có ở khắp các đình, đền, chùa, và đặc biệt ở các nhà thờ họ, ở các văn chỉ, văn miếu các nơi.
Đức đại an dân, tâm đồng thiên cổ thịnh (Đức lớn yên dân, lòng cùng ngàn xưa thịnh)
Hùng triều hộ quốc, đức hóa vạn niên tử. (Hùng triều giúp nước, đức hóa vạn năm thờ)
Thiện báo, ác báo, trì báo, tốc báo; chung tu hữu báo (Thiện báo, ác báo, chậm báo, nhanh báo)
Thiên tri, địa trị, nhĩ tri, ngã trị; hà vị vô tri. (đến cùng đều có báo; Trời biết, đất biết, anh biết, tôi biết; sao bảo không ai biết) Huynh hữu đệ cung, nãi quân tử tu thân chi bản; (Anh hiền em kính, ấy cái gốc tu thân của người quân tử)
Lễ môn nghĩa lộ, vi đại nhân thiệp thể chi phương.(Lễ theo nghĩa giữ, đây là phương pháp vào đời của bậc đại nhân)
Phúc địa tâm điền nghi mỹ quả; (Đất phúc ruộng tâm nên quả đẹp)
Hiền tôn hiếu tử tức danh hoa. (Cháu hiền con thảo được hoa thơm)
Câu đối chúc mừng: Hơn bẩy chục năm qua, có Đảng dẫn đường, dân tộc Việt ngẩng đầu cùng bốn biển Ngoài nam làm thu ấy, Bác Hồ chỉ lối, nước non Hồng rạng mặt với năm châu. Ngoài ra còn có các cấu đối vui hoà nhập vào các sinh hoạt dân gian.
Trên nhiều phương diện, nhiều bối cảnh, nhiều giai tầng khác nhau, câu đối đều có thể tham gia bằng nghệ thuật của mình. Chữ nghĩa câu đối điêu luyện, nội dung miêu tả được nắm bắt một cách tinh nhanh, góc nhìn sắc bén... Tuy vậy, câu đối không phải chỉ giành riêng cho lớp thượng lưu, câu đối cũng rất gần với dân gian. Câu đối nước ta có đặc sắc riêng; dù là câu đối Hán hay câu đối Nôm; dù là câu rất ngắn hay câu rất dài; qua nội dung và nghệ thuật câu đối, chúng ta có thể tìm hiểu được nhiều vấn đề về lịch sử, văn học, ngôn ngữ... của dân tộc ta.


Bình luận